Chuyển đến nội dung chính

American Idol (mùa 7) – Wikipedia tiếng Việt


American Idol 7 là cuộc thi âm nhạc American Idol lần thứ 7 được tổ chức từ ngày 15 tháng 1 năm 2008 cho đến ngày 21 tháng 5 năm 2008. Người dẫn chương trình của cuộc thi vẫn là Ryan Seacrest và ba vị giám khảo là Simon Cowell, Paula Abdul và Randy Jackson. David Cook là người thắng cuộc thi này.





Cuộc thi American Idol 7 có một số sự thay đổi so với các phần trước như cho phép các thí sinh tham gia cuộc thi được sử dụng nhạc cụ riêng của mình. Đêm chung kết của cuộc thi cũng được dời địa điểm Nhà hát Kodak truyền thống sang Nhà hát Nokia tại Los Angeles.



Cuộc thi American Idol 2008 đã tổ chức 7 cuộc thi thử giọng trên khắp nước Mỹ tại các thành phố:



Sau khi kết thúc vòng thử giọng trên khắp nước Mỹ, 164 thí sinh đã được chọn về thành phố Pasadena, California để tranh tài trong vòng loại Hollywood. Năm 2008, cuộc thi có một số thay đổi về luật thi để đảm bảo không thí sinh tài năng nào bị loại mất.

Vào ngày thứ nhất của cuộc thi, các thí sinh sẽ trình diễn trước ban giám khảo. Đây là lần đầu tiên trong vòng loại, các thí sinh được phép phối hợp với ban nhạc hoặc sử dụng nhạc cụ riêng của mình như keyboard, guitar hay trống. Nếu như màn trình diễn của các thí sinh được chấp nhận, họ sẽ được vào thắng vòng loại thứ hai diễn ra vào ngày thứ ba của cuộc thi. Còn những thí sinh còn lại sẽ có một cơ hội thứ hai. Trong ngày thứ hai của vòng loại, họ sẽ được ban giám khảo chia thành từng nhóm nhỏ hát với nhau không có nhạc đệm rồi từ đó sẽ chọn lọc ra các thí sinh xuất sắc nhất tiếp tục thi ngày thứ ba.

Tiếp đến ngày thứ ba, các thí sinh được giữ lại tiếp tục thi tài với sự hỗ trợ của ban nhạc và các ca sĩ hát đệm. Đến cuối ngày sẽ chỉ còn 50 thí sinh và cuối cùng danh sách 24 thí sinh xuất sắc nhất sẽ được công bố.



Chủ đề các bài hát của tuần[sửa | sửa mã nguồn]


Các nam ca sĩ dừng lại ở bán kết[sửa | sửa mã nguồn]


  • Danny Noriega

  • Luke Menard

  • Robert "Robbie" Carrico

  • Jason Yeager

  • Colton Berry

  • Garrett Harley

Các nữ ca sĩ dừng lại ở bán kết[sửa | sửa mã nguồn]


  • Asia'h Epperson

  • Kady Malloy

  • Alaina Whitaker

  • Alexandrea Lushington

  • Joanne Borgella

  • Amy Davis

Chủ đề các bài hát của tuần[sửa | sửa mã nguồn]


  • Tuần 1 (11 tháng 3): John Lennon và Paul McCartney

  • Tuần 2 (18 tháng 3): The Beatles

  • Tuần 3 (25 tháng 3): Các bài hát theo năm sáng tác

  • Tuần 4 (1 tháng 4): Dolly Parton

  • Tuần 5 (8 tháng 4): Các bài hát theo cảm hứng

  • Tuần 6 (15 tháng 4): Mariah Carey

  • Tuần 7 (22 tháng 4): Andrew Lloyd Webber

  • Tuần 8 (29 tháng 4): Neil Diamond

  • Tuần 9 (6 tháng 5): Những bài hát Rock and Roll nổi tiếng

  • Tuần 10 (13 tháng 5): bài hát lựa chọn bởi ban tổ chức, thí sinh và nhà sản xuất

Những thí sinh lọt vào top 12[sửa | sửa mã nguồn]


  • Brooke White* :xếp thứ 5

  • Carly Smithson: xếp thứ 6

  • Kristy Lee Cook: xếp thứ 7

  • Michael Johns: xếp thứ 8

  • Ramiele Malubay:xếp thứ 9

  • Chikezie: xếp thứ 10

  • Amanda Overmyer: xếp thứ 11

  • David Hernandez: xếp thứ 12






Bảng màu
Nữ
Nam
Tốp 12
Tốp 24


An toàn 1
An toàn 2
Bị loại

























































































































































































Vòng:
Bán kết
Chung kết
Tuần thi:
21/02
28/02
06/03
12/03
19/03
26/03
02/04
10/04116/04
23/04
30/04207/05
14/05
21/05
STT
Thí sinh
Kết quả
1
David Cook













Chiến thắng
2
David Archuleta













Về nhì
3
Syesha Mercado



At 1

At 2

At 1
At 1
At 1


Loại

4
Jason Castro





At 1





Loại

5
Brooke White






At 1

At 2

Loại

6
Carly Smithson




At 1


At 1

Loại

7
Kristy Lee Cook



At 2
At 2

At 2

Loại

8
Michael Johns







Loại

9
Ramiele Malubay






Loại

10
Chikezie





Loại

11
Amanda Overmyer




Loại

12
David Hernandez



Loại

13-16
Danny Noriega


Loại

Asia'h Epperson



Luke Menard



Kady Malloy

At 1

17-20
Robbie Carrico

Loại

Alaina Whitaker


Alexandréa Lushington


Jason Yeager


21-24
Colton Berry
Loại

Joanne Borgella

Amy Davis

Garrett Haley


1 Do lịch phát sóng đặc biệt của chương trình Idol Gives Back trùng với tối thứ tư công bố kết quả, nên buổi công bố lùi sang ngày thứ năm.

2 Từ mốc thời gian này về sau, không có sự phân định rõ ràng giữa Nhóm 2 hoặc Nhóm 3 không an toàn.









Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1168 - 2011 một danh sách

Ảnh: William Waldron [@] một lần nữa, trang trí ELLE đã biên soạn một danh sách các nhà thiết kế chúng tôi tình yêu, tài năng làm việc ở đầu trò chơi của họ. Thêm vào đó, chúng tôi đã chọn 5 trẻ trang trí công việc mà chúng tôi tìm thấy hấp dẫn và tươi. Click vào đây để xem picks của chúng tôi thiết kế top 25. Xem ai đã thực hiện trong danh sách năm ngoái. bán-ghế-sofa-giường-đa-năng-giá-rẻ-tuy-tín-tphcm 2011 một danh sách

1170 - Massimo Vignelli ' s Secrets để thiết kế

Ảnh: Các Juliana Sohn "kéo dài thiết kế tốt," ông Massimo Vignelli, người vợ, Lella, đã luôn luôn đi bộ. Sinh ra tại ý và được đào tạo như là kiến trúc sư, các cặp vợ chồng thành lập Vignelli Associates tại thành phố New York vào năm 1971, đưa con dấu hiện đại của đồ nội thất, bộ đồ ăn và đồ nội thất, không phải đề cập đến của năm 1972 huyền thoại bản đồ tàu điện ngầm thành phố New York. Sáng tạo mới nhất của họ: Vignelli Trung tâm nghiên cứu thiết kế tại của Rochester Institute of Technology, mà họ tặng của họ lưu trữ toàn bộ các đối tượng và phác thảo. Loại thiết kế endures? Đọc. cảm hứng • chúng tôi có một phương châm: nếu bạn không thể tìm thấy nó, thiết kế nó. Năm 1964, chúng tôi đang tìm kiếm một ghế sofa cho ngôi nhà của chúng tôi, vì vậy chúng tôi thiết kế Saratoga cho Poltronova, mà có tấm lót bằng da và một khung boxy, mạ. Đó là trong phòng khách của chúng tôi — chúng tôi vẫn còn sử dụng nó.  • Thiết kế nên giải quyết vấn đề. Đối với Heller, chúng ta thực hiện x...