Chuyển đến nội dung chính

Cá nược – Wikipedia tiếng Việt


Cá nược (Orcaella brevirostris) là một loài động vật có vú thuộc họ Cá heo biển Delphinidae, sống ven bờ biển và cửa sông trong khu vực Đông Nam Á, được tìm thấy trên sông Irrawaddy tại Myanma, sông Mahakam ở Indonesia, và sông Mê Kông tại Campuchia cũng như Việt Nam. Một số tài liệu gọi theo tên dịch từ tiếng Anh là cá heo Irrawaddy[1]. Tuy nhiên loài này có mặt ở Việt Nam và được định danh là cá nược hoặc cá nược Minh Hải.




Nhầm lẫn về tên gọi cá nược[sửa | sửa mã nguồn]


Nhiều sách báo cho đến nay và các từ điển trước đây vẫn còn dùng tên gọi cá nược để chỉ loài cá cúi (Dugong dugong), thuộc họ Bò biển (Dugongidae). Tuy nhiên những tài liệu chuyên ngành định danh 2 loài khác nhau như đã nêu.



Cá nược đã được Richard Owen xác định năm 1866 và là một trong hai loài của chi cá heo vây hếch (loài kia mới được công nhận năm 2005 là Cá heo vây hếch Úc). Nó có bề ngoài tương tự như cá voi trắng (Delphinapterus leucas). Nó đôi khi được liệt kê hoặc là trong họ chỉ chứa nó hoặc là trong họ Họ Kỳ lân biển (Monodontidae) hay phân họ Delphinapteridae. Hiện tại, đa số các nhà khoa học chấp nhận việc liệt kê nó trong họ Họ Cá heo mỏ (Delphinidae). Về mặt di truyền học, cá nược có quan hệ họ hàng gần với cá hổ kình (Orcinus orca, còn gọi là cá heo ki-le).

Tên gọi khoa học brevirostris có nguồn gốc từ tiếng Latinh với ý nghĩa là "mỏ ngắn". Năm 2005, các phân tích bộ gen đã chỉ ra rằng Cá heo vây hếch Úc được tìm thấy ven bờ biển phía bắc Úc là loài thứ hai trong chi Orcaella.



Loài này có cục mô lớn chứa nhiều chất béo ở trên trán, đầu tròn và tù. Mỏ của nó là không rõ ràng. Vây lưng ngắn, hình tam giác tù. Nó nằm ở khoảng cách khoảng 2/3 của sống lưng, tính từ mỏ xuống tới thùy đuôi. Các chân chèo dài và rộng bản. Nó có da sáng màu trên toàn bộ cơ thể- phần bụng trắng hơn so với phần lưng.

Khi mới sinh ra, cá nược có chiều dài cơ thể khoảng 1 m (3,3 ft) và cân nặng khoảng 10 kg. Khi trưởng thành nó đạt tới 2,3 m (7,5 ft) và nặng trên 130 kg. Tuổi thọ khoảng 30 năm.

Cá nược bơi chậm. Nó chỉ nổi lên mặt nước và lộn nhào với sự nhấc thùy đuôi lên khỏi mặt nước khi lặn xuống sâu mà thôi. Cá nược phun nước từ miệng khi nó nhảy thẳng người lên mặt nước.



Trong tiếng Anh người ta gọi nó là cá heo [sông] Irrawaddy, nhưng nó không phải là cá heo sông thật sự mà là một loài cá heo biển sống ở ven bờ và đi vào trong các cửa sông, bao gồm các sông Hằng và Mê Kông cũng như sông Ayeyarwaddy (sông Irrawaddy) mà từ đó có tên gọi của nó. Khu vực sinh sống của chúng kéo dài từ vịnh Bengal tới Papua New Guinea và vùng biển phía bắc Úc.

Đàu năm 2012, các nhà khoa học đã tìm thấy một quẩn thể gồm khoảng 20 con cá nược tại khu vực gần quần đảo Bà Lụa, thuộc Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang của Việt Nam [2]


Khu vực bảo tồn cá nước trên sông Mê Kông[sửa | sửa mã nguồn]


Cá nược được đưa vào danh sách những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao từ năm 2004.
Theo tính toán của chính phủ Campuchia, khoảng 155 tới 175 cá nược đang sống trong đoạn sông Mekong trên lãnh thổ Campuchia. Nhưng năm ngoái Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (WWF) nhận định chỉ 85 con cá nược sống tại Campuchia[1]. Ngày 24 tháng 8 năm 2012 chính phủ Campuchia ra quyết định lập khu vực bảo tồn cá nược trên sông Mê Kông với chiều dài 180 km, nó trải dài từ tỉnh Kratie ở phía đông Campuchia tới biên giới với Lào. Người dân vẫn được phép câu cá trong khu bảo tồn, song chính phủ cấm sử dụng nhà nổi, lồng cá và lưới quét bởi chúng đe dọa mạng sống của cá nược[3].



Do cuộc sống ở vùng biển ven bờ nên cá nược dễ bị tổn thương trước các can thiệp từ phía con người hơn là các loài cá heo sông khác. Mối đe dọa trực tiếp đối với chúng là việc săn bắt để lấy mỡ. Là một loài được coi là nguy cấp, chúng được luật pháp bảo vệ trước tình trạng săn bắt, tuy nhiên, hiệu lực pháp lý có thể là không đảm bảo trên một đường bờ biển dài tới hàng chục ngàn ki-lô-mét. Việc mắc phải các lưới đánh cá cũng như các thương vong của cá nược do việc sử dụng chất nổ bừa bãi để đánh bắt cá là khá phổ biến ở Việt Nam và Thái Lan. Quần thể cá nược tại hồ Chilka (Ấn Độ) hiện nay ước tính chỉ còn khoảng 50 cá thể. Tại Myanma, cá nược còn tham gia trong việc đánh bắt cá với con người khi họ sử dụng các loại lưới quăng, bằng cách dẫn dắt cá về phía các ngư dân khi có tín hiệu âm thanh từ phía họ.

IUCN liệt kê một số quần thể, bao gồm các quần thể ở sông Mahakam và Malampaya Sound là cực kỳ nguy cấp.













Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1168 - 2011 một danh sách

Ảnh: William Waldron [@] một lần nữa, trang trí ELLE đã biên soạn một danh sách các nhà thiết kế chúng tôi tình yêu, tài năng làm việc ở đầu trò chơi của họ. Thêm vào đó, chúng tôi đã chọn 5 trẻ trang trí công việc mà chúng tôi tìm thấy hấp dẫn và tươi. Click vào đây để xem picks của chúng tôi thiết kế top 25. Xem ai đã thực hiện trong danh sách năm ngoái. bán-ghế-sofa-giường-đa-năng-giá-rẻ-tuy-tín-tphcm 2011 một danh sách

1170 - Massimo Vignelli ' s Secrets để thiết kế

Ảnh: Các Juliana Sohn "kéo dài thiết kế tốt," ông Massimo Vignelli, người vợ, Lella, đã luôn luôn đi bộ. Sinh ra tại ý và được đào tạo như là kiến trúc sư, các cặp vợ chồng thành lập Vignelli Associates tại thành phố New York vào năm 1971, đưa con dấu hiện đại của đồ nội thất, bộ đồ ăn và đồ nội thất, không phải đề cập đến của năm 1972 huyền thoại bản đồ tàu điện ngầm thành phố New York. Sáng tạo mới nhất của họ: Vignelli Trung tâm nghiên cứu thiết kế tại của Rochester Institute of Technology, mà họ tặng của họ lưu trữ toàn bộ các đối tượng và phác thảo. Loại thiết kế endures? Đọc. cảm hứng • chúng tôi có một phương châm: nếu bạn không thể tìm thấy nó, thiết kế nó. Năm 1964, chúng tôi đang tìm kiếm một ghế sofa cho ngôi nhà của chúng tôi, vì vậy chúng tôi thiết kế Saratoga cho Poltronova, mà có tấm lót bằng da và một khung boxy, mạ. Đó là trong phòng khách của chúng tôi — chúng tôi vẫn còn sử dụng nó.  • Thiết kế nên giải quyết vấn đề. Đối với Heller, chúng ta thực hiện x...