Chuyển đến nội dung chính

Chuối – Wikipedia tiếng Việt




Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa; trái của nó là trái cây được ăn rộng rãi nhất. Những cây này có gốc từ vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc. Ngày nay, nó được trồng khắp vùng nhiệt đới.[1]

Chuối được trồng ở ít nhất 107 quốc gia.[2] Ở nhiều vùng trên thế giới và trong thương mại, "chuối" là từ thường được dùng để chỉ các loại quả chuối mềm và ngọt. Những giống cây trồng có quả chắc hơn được gọi chuối lá. Cũng có thể cắt chuối mỏng, sau đó đem chiên hay nướng để ăn giống như khoai tây. Chuối khô cũng được nghiền thành bột chuối.

Quả của những cây chuối dại (ở Việt Nam còn gọi là chuối rừng) có nhiều hột lớn và cứng. Nhưng hầu hết loại chuối được buôn bán để ăn thiếu hột (xem Trái cây không có hột) vì đã được thuần hóa lâu đời nên có bộ nhiễm sắc thể tam bội. Có hai loại chuối cơ bản: các dạng chuối tráng miệng có màu vàng và được ăn khi chín, còn các loại chuối nấu được nấu khi còn màu xanh. Hầu hết chuối được xuất khẩu thuộc về loại đầu tiên; tuy nhiên, chỉ khoảng 10–15% tổng sản lượng chuối được xuất khẩu. Hoa Kỳ và các nước trong Liên minh châu Âu nhập khẩu chuối nhiều nhất.





Cây chuối thuộc về họ Chuối. Nó được trồng chủ yếu để lấy trái cây của nó, và ở mức độ ít hơn là thân và để trang trí. Vì cây thường mọc lên cao, thẳng, và hơi vững, nó thường bị lầm lẫn với thân cây thật, trong khi "thân" chính của nó là một "thân giả" (tiếng Anh: pseudostem). Thân giả của một số loài có thể cao tới 2–8 m, với lá kéo dài 3,5 m. Mỗi thân giả có thể ra 1 buồng chuối màu vàng, xanh, hay ngay cả màu đỏ, trước khi chết và bị thay bằng thân giả mới.
Quả của những cây chuối dại (ở Việt Nam còn gọi là chuối rừng) có nhiều hột lớn và cứng. Nhưng hầu hết loại chuối được buôn bán để ăn thiếu hột (xem Trái cây không có hột) vì đã được thuần hóa lâu đời nên có bộ nhiễm sắc thể đa bội (thường là tam bội). Cây thường mọc thành bụi và được trồng bằng cách tách rời cây non đem trồng thành bụi mới.

Quả chuối ra thành nải treo, mỗi tầng (gọi là nải) có tới 20 quả, và mỗi buồng có 3–20 nải. Các nải nhìn chung gọi là một buồng, nặng 30–50 kg. Một quả trung bình nặng 125 g, trong số đó vào khoảng 75% là nước và 25% là chất khô. Mỗi quả riêng có vỏ dai chung quanh thịt mềm ăn được. Vỏ và thịt đều ăn được ở dạng tươi hay đã qua chế biến (nấu). Những người phương Tây thường ăn thịt chuối còn tươi và vứt vỏ, trong khi một số nước Á Đông nấu rồi ăn cả vỏ và thịt. Quả chuối thường có nhiều sợi (gọi là bó libe) nằm giữa vỏ và thịt. Chuối chứa nhiều vitamin B6, vitamin C và kali.


Hoa chuối điển hình với hoa đực ở đầu và hoa cái mọc trên cao hơn hoa đực

Cây chuối có thân giả lên tới 6–7,6 m, mọc lên từ một thân ngầm. Lá chuối ra theo hình xoắn và có thể kéo dài 2,7 m và rộng 60 cm.[3] Cây chuối là loài thân thảo lớn nhất.[4] Hoa chuối thường lưỡng tính, đầu hoa thường ra một hoa đực riêng, không sinh sản, còn được gọi là bắp chuối, nhưng đôi khi có thể ra thêm – một thân cây chuối ở Hinigaran, Negros Occidental, Philippines ra năm hoa.[5] Bắp chuối được dùng như rau ở Đông Nam Á; nó được hấp, trộn salad, hoặc ăn sống.[6] Các hoa cái ở trên hoa đực và không cần được thụ phấn để tạo quả chuối.



Phạm vi phân bố của tổ tiên của chuối ăn hiện đại. Musa acuminata được thể hiện trong màu xanh lá cây và Musa balbisiana trong màu cam.[7]

Chuối được thuần hóa ở Đông Nam Á. Nhiều loài chuối dại vẫn còn mọc lên ở New Guinea, Malaysia, Indonesia, và Philippines. Gần đây, di tích về khảo cổ học và môi trường cổ tại đầm lầy Kuk ở tỉnh Cao nguyên Tây, Papua New Guinea gợi ý rằng chuối được trồng ở đấy bắt đầu trễ nhất năm 5000 TCN, nhưng có thể từ 8000 TCN.[8] Sự khám phá này có nghĩa rằng cao nguyên New Guinea là nơi mà chuối được thuần hóa đầu tiên. Có lẽ những loài chuối dại khác được trồng ở những vùng khác tại Đông Nam Á.

Một số vùng cô lập ở Trung Đông có thể trồng chuối từ thời gian trước khi Hồi giáo ra đời. Có chứng cớ trong văn kiện rằng nhà tiên tri Muhammad biết ăn nó. Sau đó, văn minh Hồi giáo trải ra nhiều nước, và chuối đi theo. Những văn kiện Hồi giáo (như là bài thơ và truyện thánh) nói đến nó nhiều lần, bắt đầu từ thế kỷ 9. Vào thế kỷ 10, những văn kiện Palestine và Ai Cập đã nói đến chuối; từ đấy, chuối lan qua Bắc Phi và Tây Ban Nha Hồi giáo. Thực tế là vào thời Trung cổ, chuối từ Granada (Tây Ban Nha) được coi là những chuối ngon nhất trong thế giới Ả Rập.[9]

Các phytolith được khám phá trong một số cây chuối hóa thạch ở Cameroon từ thiên niên kỷ 1 TCN[10] đã gây ra cuộc tranh luận về lúc bắt đầu trồng cây chuối ở châu Phi. Có chứng ngôn ngữ học rằng người Madagascar đã biết về chuối vào lúc đó.[11] Trước các khám phá này, chứng cớ sớm nhất về sự trồng chuối ở châu Phi có từ cuối thế kỷ 6 CN về sau.[12] Người Hồi giáo Ả Rập chắc buôn chuối từ bờ biển đông của châu Phi đến bờ biển Đại Tây Dương và về phía nam tới Madagascar.[9] Năm 650, quân đội Hồi giáo mang chuối đến vùng Palestine.




  1. ^ Nelson, Scot C.; Randy C. Ploetz; và Angela Kay Kepler (2006). “Musa species (banana and plantain)” (PDF). Species Profiles for Pacific Island Agroforestry (bằng tiếng Anh). Traditional Tree Initiative. 

  2. ^ “ProdSTAT: Crops”. FAOSTAT. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới. 2005. Truy cập 9 tháng 12 năm 2006. 

  3. ^ Morton, Julia F (1987). “Banana”. Fruits of Warm Climates (bằng tiếng Anh). Miami, Florida. tr. 29–46. ISBN 0-9610184-1-0. 

  4. ^ Miles, Tim (tháng 5 năm 2002). “Yes, we have more bananas”. Royal Horticultural Society Journals (bằng tiếng Anh) (Hiệp hội Làm vườn Hoàng gia). 

  5. ^ Angolo, Angelo (ngày 15 tháng 5 năm 2008). “Banana plant with five hearts is instant hit in Negros Occ”. ABS-CBN News Online (bằng tiếng Anh) (ABS-CBN). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2008. 

  6. ^ Solomon, Charmaine; Nina Solomon (tháng 9 năm 1998). “Banana Flower”. Encyclopedia of Asian Food (bằng tiếng Anh). Periplus Editions. ISBN 9625934170. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2008. 

  7. ^ Edmond de Langhe & Pierre de Maret (2004). “Tracking the banana: its significance in early agriculture”. Trong Jon G. Hather. The Prehistory of Food: Appetites for Change. Routledge. tr. 372. ISBN 978-0-203-20338-5. 

  8. ^ “Tracing antiquity of banana cultivation in Papua New Guinea” (bằng tiếng Anh). The Australia & Pacific Science Foundation. 24 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2007. 

  9. ^ a ă Watson, Andrew (1983). Agricultural innovation in the early Islamic world (bằng tiếng Anh). Thành phố New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 54. 

  10. ^ De Langhe, Edmond; Pierre de Maret. “Tracking the Banana: Significance to Early Agriculture” (Microsoft Word) (bằng tiếng Anh). 

  11. ^ Zeller, Friedrich J. “Herkunft, Diversität und Züchtung der Banane und kultivierter Zitrusarten” (PDF). Journal of Agriculture and Rural Development in the Tropics and Subtropics (bằng tiếng Đức). 

  12. ^ Lejju, B. Julius; Peter Robertshaw; David Taylor (ngày 28 tháng 6 năm 2005). “Africa's earliest bananas?” (PDF). Journal of Archeological Science (bằng tiếng Anh). 











Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

1156 - Tìm thấy lượt người trong thiết kế: Ngày 27 tháng 5

Ảnh: Thông qua thiết kế là của tôi.  chưa có tiêu đề tài liệu "tuần này, mùa hè thiết kế là tôi đăng một bộ sưu tập nội thất được trang trí với bức ảnh cũ [còn lại]. Họ thêm một cảm giác ấm cúng cho những không gian và làm cho bạn suy nghĩ về lịch sử của mỗi bức ảnh. Tôi đặt cược họ sẽ là người mới bắt đầu cuộc trò chuyện tuyệt vời tại một bữa tiệc hoặc thu thập." -Rachel Follett, đáng yêu cụm "tôi đã nhìn thấy đèn mặt dây IKEA Maskros tấn công trước khi, nhưng đây là một trong, được phát hiện trên máy tính xách tay màu xanh lá cây ít, nhất độc đáo và trang nhã biến đổi ra khỏi đó. Jenny đã cho tôi tại sơn vàng, nhưng việc bổ sung các giấy "Hoa" và ít glasslike bát Lấy vật cố này để cấp độ tiếp theo." -Katie Stephenson, nghệ thuật Wall "đang là một người yêu của tất cả mọi thứ đầy màu sắc, tôi ngưỡng mộ nghệ sĩ Mariska Meijers nhà. Tôi đã hoàn toàn không có tài năng với một bàn chải Sơn, do đó, nó tuyệt vời để xem Mariska làm việc kỳ diệu của mình...

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1150 - Goa Cutlery Set từ Conran Shop

Ảnh: Geoffrey Sokol The Goa cutlery set từ cửa hàng Conran gợi lên sự đơn giản của bàn chải một nghệ sĩ. Sản xuất tại Bồ Đào Nha, flatware thép không gỉ có một xử lý mỏng, màu đen-nhựa và máy rửa chén an toàn. Một thiết lập nơi mảnh-sáu là $70; tập 36-phần chi phí $415.  Goa cutlery set, 70 $ hoặc $415, 212-755-9079; conranusa.com để biết thêm về những gì chúng tôi tình yêu, hãy nhấp vào đây. ghế sofa đa năng giá rẻ Goa Cutlery Set từ Conran Shop