Chuyển đến nội dung chính

Họ Cu cu – Wikipedia tiếng Việt


Họ Cu cu (danh pháp khoa học: Cuculidae) là một họ chim cận sẻ thuộc về bộ Cu cu (Cuculiformes). Bộ Cu cu này, ngoài họ Cu cu ra còn có thể chứa các họ khác như họ Turaco (Musophagidae), mà đôi khi được coi là bộ riêng rẽ, gọi là Musophagiformes). Một số nhà động vật học và sinh thái học còn gộp cả gà móng (Opisthocomus hoazin), một loài chim kỳ bí ở Nam Mỹ vào trong bộ Cuculiformes, nhưng việc phân loại như vậy còn gây nhiều tranh cãi.

Họ Cu cu, bên cạnh những loài có tên gọi là cu cu hay chèo chẹo, bắt cô trói cột, còn chứa các loài có tên gọi là chẹo đất (chi Geococcyx), tu hú (chi Eudynamys), phướn (chi Phaenicophaeus), coua (chi Coua), bìm bịp (chi Centropus) và ani (chi Crotophaga). Các loài bìm bịp và ani đôi khi được tách ra thành các họ riêng biệt, với danh pháp tương ứng là Centropodidae và Crotophagidae.

Trong quá khứ, cụm từ đỗ quyên, vay mượn từ tiếng Trung 杜鹃, được dùng để chỉ các loài chim dạng cu cu, nhưng sau này nghĩa của nó bị thay đổi và hiện nay được dùng như là từ đồng nghĩa để chỉ các loài cuốc (Amaurornis spp., Porzana spp.) trong họ Gà nước (Rallidae). Tình trạng tương tự diễn ra đối với cụm từ đỗ vũ (杜宇).





Các loài trong họ Cu cu là chim với kích thước khác nhau, từ nhỏ như ở tìm vịt trán trắng (Chrysococcyx minutillus), chỉ nặng 17 g và dài 15 cm (6 inch), tới lớn như cu cu mỏ cong (Scythrops novaehollandiae), cân nặng 630 g (1,4 pao) và dài 63 cm (25 inch), với thân hình mảnh dẻ, đuôi dài và chân khỏe. Chân của chúng dạng bốn ngón với hai ngón giữa hướng về phía trước và hai ngón ngoài hướng về phía sau (zygodactyly). Phần lớn các loài sống trong rừng, nhưng một số loài ưa thích các khu vực thoáng vùng nông thôn. Phần lớn ăn sâu bọ, với dạng sâu bướm nhiều lông mà phần lớn các loài chim khác thường né tránh, lại là món đặc biệt của chúng.

Các chi trong họ này khác nhau ở số lượng lông cánh chính như dưới đây.


  • Phaenicophaeus, Coccyzus, Piaya - 9

  • Cuculus - 9 hay 10

  • Pachycoccyx, Clamator levaillantii, Centropus - 10

  • Microdynamis, Eudynamys,Clamator glandarius - 11

  • Một vài loài bìm bịp - 12

  • Scythrops novaehollandiae - 13

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]


Con chim chích nhỏ bé này đang nuôi con non (nhưng to lớn hơn) của cu cu thường, loài cu cu được biết đến nhiều nhất.

Khoảng 56 loài chim dạng cu cu của Cựu Thế giới và 3 loài Tân Thế giới là chim đẻ trứng nhờ, chúng đẻ trứng trong tổ của các loài chim khác.[1] Ví dụ tốt nhất là cu cu Á-Âu. Trứng của chúng nở sớm hơn của chim chủ và chim non của chúng cũng lớn nhanh hơn chim non của chim chủ; trong phần lớn các trường hợp con chim non này sẽ đẩy trứng hay chim non của chim chủ ra khỏi tổ. Con chim non này không có thời gian để học hành vi này, vì thế nó phải là bản năng được di truyền. Chim mẹ vẫn nuôi chim non nếu đây là con của nó, cái mỏ há của chim non đóng vai trò của tín hiệu kích thích để chim chủ cho nó ăn.[2]

Chim mẹ của các dạng chim cu cu ký sinh (thuộc phân họ Cuculinae) chuyên biệt hóa và đẻ trứng gần giống với trứng của chim chủ mà nó lựa chọn. Điều này dường như được hỗ trợ bằng chọn lọc tự nhiên, do một số loài chim có khả năng phân biệt trứng của cu cu với trứng của chúng, làm cho những trứng ít giống với trứng của chúng sẽ bị hất ra ngoài tổ.[2] Chim cu cu ký sinh được nhóm thành các ngành, với mỗi ngành chuyên biệt hóa trên một loại chim chủ cụ thể. Có một số chứng cứ cho thấy các ngành này là khác biệt đối với nhau về mặt di truyền.

Phần lớn các loài khác trong họ Cu cu, chẳng hạn như các loài phướn, phướn đất, coua, bìm bịp, gà lôi đuôi dài và phần lớn các loài cu cu châu Mỹ đều tự làm tổ của chúng. Phần lớn các loài chim này làm tổ trên cây hay trong bụi rậm, nhưng các loài bìm bịp đẻ trứng trong tổ ngay trên mặt đất hoặc trong các bụi rậm thấp. Mặc dù trong một số trường hợp các loài chim dạng cu cu nhưng không ký sinh vẫn ký sinh các loài chim khác, nhưng chim bố mẹ vẫn hỗ trợ việc nuôi các con non của chính chúng.

Phần lớn các loài chim dạng cu cu tự làm tổ đều có chế độ một vợ một chồng, nhưng các loài ani và cu cu Guira đẻ trứng của chúng trong các tổ chung. Hành vi của chúng không mang tính hợp tác hoàn toàn; chim mái có thể hất trứng của chim mái khác khi nó đẻ trứng của mình.[1]

Các loài chim dạng cu cu không ký sinh, tương tự như phần lớn các loài chim không dạng sẻ khác, đẻ trứng có vỏ màu trắng, nhưng phần lớn các loài ký sinh thì đẻ trứng với vỏ có màu phù hợp với màu của trứng chim chủ thuộc bộ Sẻ của chúng.

Chim non của tất cả các loài trong họ Cu cu là chim non yếu, nghĩa là chúng không tự kiếm mồi sớm được. Các loài chim dạng cu cu không ký sinh rời tổ trước khi chúng có thể bay, và một số loài Tân thế giới có chu kỳ ấp trứng thuộc loại ngắn nhất trong số các loài chim.[1]


Hình ảnh cho thấy một con cu cu Pallid non được 3 loài chim bố mẹ nuôi dưỡng khác nhau chăm sóc

Ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]


Không giống như phần lớn các loài khác trong họ Cu cu, tu hú châu Á lại chủ yếu ăn quả.

Phần lớn các loài trong họ Cu cu ăn sâu bọ; và cụ thể là chuyên nghiệp hóa trong việc ăn các loại sâu bọ và sâu bướm lớn, bao gồm cả những dạng nhiều lông lá khét tiếng mà các loài chim khác thường bỏ qua. Chúng là bất thường trong số các loài chim ở quá trình săn bắt mồi của chúng trước khi nuốt thức ăn, bằng cách cọ đi cọ lại chúng trên các vật cứng, như các cành cây và sau đó vò nát con mồi bằng các tấm xương đặc biệt ở cuối miệng.[3] Chúng cũng săn bắt một khoảng rộng các loài côn trùng hay con mồi động vật khác. Các loài cu cu thằn lằn ở khu vực Caribe, do sự thiếu vắng tương đối của chim săn mồi, lại chuyên biệt hóa trong việc săn bắt các loài thằn lằn. Các loài to lớn và sống sát mặt đất hơn, như bìm bịp và gà lôi đuôi dài cũng ăn thịt rắn, thằn lằn, động vật gặm nhấm nhỏ và các loài chim khác bằng cách rỉa thịt chúng với những chiếc mỏ to khỏe của mình.

Một vài loài tu hú, coua và cu cu mỏ cong chủ yếu ăn các loại quả,[4] nhưng chúng không chỉ ăn mỗi hoa quả. Cụ thể là các loài tu hú ký sinh và cu cu mỏ cong ăn chủ yếu là quả khi được nuôi dưỡng bởi các chim chủ ăn hoa quả, như vàng anh mắt đỏ (Sphecotheres viridis) và currawong đen trắng (Strepera graculina). Các loài khác đôi khi cũng ăn hoa quả.


Tiếng kêu[sửa | sửa mã nguồn]


Cu cu châu Phi được nhận dạng như là một loài riêng biệt trên cơ sở tiếng kêu của nó.

Các loài chim trong họ Cu cu thường là hay e dè và trong nhiều trường hợp người ta chỉ nhận biết ra chúng nhờ tiếng kêu của chúng. Tiếng kêu của chúng thường là tương đối đơn giản, tựa như tiếng hót, tiếng sáo hay tiếng nấc.[5] Họ Cu cu có tên khoa học từ tiếng kêu của cu cu thường, thường nghe thấy ở các loại đồng hồ cu cu. Một vài tên gọi của các loài/chi khác cũng có nguồn gốc từ tiếng kêu của chúng, chẳng hạn các loài tu hú ở châu Á và miền Australasia. Ở phần lớn các loài, tiếng kêu của chúng là khác biệt cho từng loài cụ thể và nó là hữu ích trong việc nhận dạng. Một vài loài bí ẩn được nhận dạng trên cơ sở này.

Mặc dù chúng là kiếm ăn ban ngày, nhưng nhiều loài cũng kêu vào ban đêm.[1]



Không gán vào phân họ


  • Chi Dynamopterus - hóa thạch (Hậu Eocen/Tiền Oligocen ở Caylus, Pháp)

  • Chi Cursoricoccyx – hóa thạch (Tiền Miocen ở quận Logan, Hoa Kỳ) - Neomorphinae?

  • Cuculidae chi không xác định loài không rõ (gen. et sp. indet.) – hóa thạch (Tiền Pliocen ở mỏ Lee Creek, Hoa Kỳ:[6]

  • Chi Nannococcyx – Cu cu St Helena (hóa thạch)

Phân họ Crotophaginae[sửa | sửa mã nguồn]


Chim ani.


  • Chi Crotophaga – Chim ani thật sự (3 loài)

  • Chi Guira – Cu cu Guira

Phân họ Neomorphinae[sửa | sửa mã nguồn]


Phướn đất điển hình.


Phân họ Couinae[sửa | sửa mã nguồn]


Phướn đất, coua.


  • Chi Carpococcyx – phướn đất

  • Chi Coua - Coua (9 loài sinh tồn, 1 loài tuyệt chủng gần đây)
    • Coua mào, Coua cristata

    • Coua Verreaux, Coua verreauxi

    • Coua xanh, Coua caerulea

    • Coua chỏm đầu đỏ, Coua ruficeps

    • Coua trán đỏ, Coua reynaudii

    • Coua Coquerel, Coua coquereli

    • Coua chạy, Coua cursor

    • Coua lớn, Coua gigas

    • Coua Delalande hay Coua ăn sên, Coua delalandei - tuyệt chủng

    • Coua ngực đỏ, Coua serriana

Phân họ Centropodinae[sửa | sửa mã nguồn]


Bìm bịp.


  • Chi Centropus (khoảng 27 loài)
    • Bìm bịp đầu nâu, Centropus milo

    • Bìm bịp cổ trắng, Centropus ateralbus

    • Bìm bịp mỏ ngà, Centropus menbeki

    • Bìm bịp Biak, Centropus chalybeus

    • Bìm bịp hung, Centropus unirufus

    • Bìm bịp mỏ xanh, Centropus chlororhynchos

    • Bìm bịp mặt đen, Centropus melanops

    • Bìm bịp mào đen, Centropus steerii

    • Bìm bịp ngón ngắn, Centropus rectunguis

    • Bìm bịp vịnh, Centropus celebensis

    • Bìm bịp Gabon, Centropus anselli

    • Bìm bịp họng đen, Centropus leucogaster

    • Bìm bịp Senegal, Centropus senegalensis

    • Bìm bịp đầu lam, Centropus monachus

    • Bìm bịp đuôi đồng, Centropus cupreicaudus

    • Bìm bịp mày trắng, Centropus superciliosus

    • Bìm bịp Sunda, Centropus nigrorufus

    • Bìm bịp lớn, Centropus sinensis[7]

    • Bìm bịp quần đảo Andaman, Centropus andamanensis

    • Bìm bịp Goliath, Centropus goliath

    • Bìm bịp Malagasy, Centropus toulou

    • Bìm bịp đen, Centropus grillii

    • Bìm bịp Philippine, Centropus viridis

    • Bìm bịp nhỏ, Centropus bengalensis[7]

    • Bìm bịp tím, Centropus violaceus

    • Bìm bịp mỏ đen, Centropus bernsteini

    • Bìm bịp gà lôi, Centropus phasianinus

Phân họ Cuculinae[sửa | sửa mã nguồn]




Các loài cu cu đẻ trứng nhờ, phướn, coọc, chèo chẹo.


  • Chi Eocuculus – hóa thạch (Hậu Eocen ở quận Teller, Hoa Kỳ)

  • Chi Rhinortha

  • Chi Ceuthmochares

  • Chi Taccocua
    • Phướn Sirkeer, Taccocua leschenaultii (đồng nghĩa: Phaenicophaeus leschenaultii)

  • Chi Zanclostomus

  • Chi Phaenicophaeus – phướn (6 loài)

  • Chi Rhamphococcyx

  • Chi Dasylophus

  • Chi Clamator (4 loài khát nước)

  • Chi Coccycua

  • Chi Piaya – (2-4 loài, tùy theo việc gộp các loài có thể là khác biệt thuộc chi Coccycua.

  • Chi Coccyzus – bao gồm cả SaurotheraHyetornis, và có thể là khác biệt Micrococcyx (13 loài) - Cu cu châu Mỹ.
    • Cu cu mỏ sẫm, Coccyzus melacoryphus

    • Cu cu mỏ vàng, Coccyzus americanus

    • Cu cu ngực trân châu, Coccyzus euleri

    • Cu cu rừng đước, Coccyzus minor

    • Cu cu Cocos, Coccyzus ferrugineus

    • Cu cu mỏ đen, Coccyzus erythropthalmus

    • Cu cu mào xám, Coccyzus lansbergi

    • Cu cu bụng nâu dẻ, Coccyzus pluvialis

    • Cu cu ngực hồng quế, Coccyzus rufigularis

    • Cu cu Jamaica, Coccyzus vetula

    • Cu cu Puerto Rico, Coccyzus vieilloti

    • Cu cu Cuba, Coccyzus merlini

    • Cu cu Hispaniola, Coccyzus longirostris

  • Chi Pachycoccyx

  • Chi Microdynamis

  • Chi Eudynamys – tu hú thật sự (3 loài)

  • Chi Urodynamis
    • Tu hú đuôi dài, Urodynamis taitensis (đồng nghĩa: Eudynamys taitensis)

    • Tu hú đảo Henderson, Eudynamis/Urodynamis cf. taitensis? - Chim tiền sử Hậu kỷ Đệ Tứ

  • Chi Scythrops

  • Chi Chrysococcyx – 13 loài tìm vịt
    • Tìm vịt xanh hay tìm vịt lục bảo châu Á, Chrysococcyx maculatus[7]

    • Tìm vịt tím, Chrysococcyx xanthorhynchus[7]

    • Tìm vịt Dideric, Chrysococcyx caprius

    • Tìm vịt Klaas, Chrysococcyx klaas

    • Tìm vịt họng vàng, Chrysococcyx flavigularis

    • Tìm vịt lục bảo châu Phi, Chrysococcyx cupreus

    • Tìm vịt mỏ dài, Chrysococcyx megarhynchus (đồng nghĩa: Rhamphomantis megarhynchus)

    • Tìm vịt Horsfield, Chrysococcyx basalis

    • Tìm vịt tai đen, Chrysococcyx osculans

    • Tìm vịt họng hung, Chrysococcyx ruficollis

    • Tìm vịt sáng, Chrysococcyx lucidus

    • Tìm vịt tai trắng, Chrysococcyx meyeri

    • Tìm vịt trán trắng hay tìm vịt nhỏ, Chrysococcyx minutillus[7]

  • Chi Cacomantis - 10 loài cu cu, tìm vịt
    • Cu cu Pallid, Cacomantis pallidus

    • Cu cu mào trắng, Cacomantis leucolophus (đồng nghĩa: Caliechthrus leucolophus)

    • Cu cu ngực nâu dẻ, Cacomantis castaneiventris

    • Cu cu đuôi quạt, Cacomantis flabelliformis

    • Tìm vịt vằn, Cacomantis sonneratii[7]

    • Tìm vịt, Cacomantis merulinus[7]

    • Cu cu bụng xám, Cacomantis passerinus

    • Cu cu bụi, Cacomantis variolosus

    • Cu cu ngực hung, Cacomantis sepulcralis

    • Cu cu Molucca, Cacomantis heinrichi

  • Chi Cercococcyx – cu cu đuôi dài

  • Chi Surniculus – 4 loài cu cu đen, cu cu chèo bẻo

  • Chi Hierococcyx - (trước đây gộp trong chi Cuculus) 8 loài chèo chẹo

  • Chi Cuculus – các loài cu cu điển hình (khoảng 11 loài cu cu, bắt cô trói cột)
    • Cu cu đen, Cuculus clamosus

    • Cu cu ngực dỏ, Cuculus solitarius

    • Cu cu nhỏ, Cuculus poliocephalus[7]

    • Cu cu Sulawesi, Cuculus crassirostris

    • Bắt cô trói cột hay cu cu Ấn Độ, Cuculus micropterus[7]

    • Cu cu Madagasca, Cuculus rochii

    • Cu cu châu Phi, Cuculus gularis

    • Cu cu Á-Âu, Cuculus optatus[8]

    • Cu cu phương Đông hay cu cu Himalaya, Cuculus saturatus[7]

    • Sunda Cuckoo, Cuculus lepidus

    • Cu cu hay cu cu thường, cu cu Á-Âu, Cuculus canorus[7]



  1. ^ a ă â b Payne, Robert B. (2005). The Cuckoos. Nhà in Đại học Oxford. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2007. 

  2. ^ a ă Biology (ấn bản lần thứ 4) N.A.Campbell, trang 1179 'Fixed Action Patterns' (Benjamin Cummings NY, 1996) ISBN 0-8053-1957-3

  3. ^ Kaiser G.W. (2007) The Inner Bird; Anatomy and Evolution. Nhà in UBC, Vancouver. ISBN 978-0-7748-1343-3

  4. ^ Corlett R & Ping I (1995) "Frugivory by koels in Hong Kong" Memoirs of the Hong Kong Natural History Society 20 221-222

  5. ^ Brooke, Michael de L.; Horsfall John A. (2003). “Cuckoos”. Trong Christopher Perrins (chủ biên). Firefly Encyclopedia of Birds. Firefly Books. tr. 312–315. ISBN 1-55297-777-3. 

  6. ^ Olson Storrs L. (1985): Section VII.C. Cuculidae. Trong: Farner D.S.; King J.R. & Parkes Kenneth C. (chủ biên): Avian Biology 8: 110-111. Nhà in Academic, New York.

  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ Có ở Việt Nam.

  8. ^ Tách ra từ C. saturatus, không có ở Việt Nam.


  • Feduccia Alan (1996): The Origin and Evolution of Birds. Nhà in Đại học Yale, New Haven. ISBN 0-300-06460-8


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

1156 - Tìm thấy lượt người trong thiết kế: Ngày 27 tháng 5

Ảnh: Thông qua thiết kế là của tôi.  chưa có tiêu đề tài liệu "tuần này, mùa hè thiết kế là tôi đăng một bộ sưu tập nội thất được trang trí với bức ảnh cũ [còn lại]. Họ thêm một cảm giác ấm cúng cho những không gian và làm cho bạn suy nghĩ về lịch sử của mỗi bức ảnh. Tôi đặt cược họ sẽ là người mới bắt đầu cuộc trò chuyện tuyệt vời tại một bữa tiệc hoặc thu thập." -Rachel Follett, đáng yêu cụm "tôi đã nhìn thấy đèn mặt dây IKEA Maskros tấn công trước khi, nhưng đây là một trong, được phát hiện trên máy tính xách tay màu xanh lá cây ít, nhất độc đáo và trang nhã biến đổi ra khỏi đó. Jenny đã cho tôi tại sơn vàng, nhưng việc bổ sung các giấy "Hoa" và ít glasslike bát Lấy vật cố này để cấp độ tiếp theo." -Katie Stephenson, nghệ thuật Wall "đang là một người yêu của tất cả mọi thứ đầy màu sắc, tôi ngưỡng mộ nghệ sĩ Mariska Meijers nhà. Tôi đã hoàn toàn không có tài năng với một bàn chải Sơn, do đó, nó tuyệt vời để xem Mariska làm việc kỳ diệu của mình...

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1150 - Goa Cutlery Set từ Conran Shop

Ảnh: Geoffrey Sokol The Goa cutlery set từ cửa hàng Conran gợi lên sự đơn giản của bàn chải một nghệ sĩ. Sản xuất tại Bồ Đào Nha, flatware thép không gỉ có một xử lý mỏng, màu đen-nhựa và máy rửa chén an toàn. Một thiết lập nơi mảnh-sáu là $70; tập 36-phần chi phí $415.  Goa cutlery set, 70 $ hoặc $415, 212-755-9079; conranusa.com để biết thêm về những gì chúng tôi tình yêu, hãy nhấp vào đây. ghế sofa đa năng giá rẻ Goa Cutlery Set từ Conran Shop