Chuyển đến nội dung chính

Le nâu – Wikipedia tiếng Việt




Le nâu hay Le le (danh pháp hai phần: Dendrocygna javanica) là một loài vịt nhỏ sinh sản ở Nam Á và Đông Nam Á.





Le nâu sống thành bầy ở những nơi chúng ưa thích. Môi trường sống là các hồ nước ngọt, với nhiều thực vật, Thức ăn của chúng là hạt và các loại thực vật khác. Đôi khi chúng cũng tạm cư trú ngoài biển, nhưng ngoài khu vực nhiều sóng[2]. Le nâu phân bố không đều tại Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka, Bangladesh, Myanma, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Nam Trung Quốc, Việt Nam. Le nâu chủ yếu sống định cư, di chuyển nhỏ theo vùng nước, nhưng le nâu ở Trung Quốc di cư về phía Nam vào mùa đông.

Đây là loài phân bố rộng rãi của các khu vực đất ngập nước thấp của tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á, kéo dài từ Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, Singapore, Indonesia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Nó cũng có mặt trên các quần đảo trong khu vực như Andamans, Nicobars và Maldives.[3] Chúng đôi khi cũng di chuyển trong khu vực nhỏ do các thay đổi thời tiết và lượng nước và đối với các nhóm sinh sống về phía bắc di chuyển về phía nam vào mùa đông. Chúng được tìm thấy trong các vùng đất ngập nước nhạt có lớp phủ thực vật tốt và thường nghỉ ngơi trên các bờ sông hoặc thậm chí trên các vùng biển mở ven bờ.[4] Downy chicks là nhóm có màu đen với mắt nâu và các đốm trắng sau đỉnh đầu, cánh, bụng và rump.[5][6] Các cá thể Albino đã được tìm thấy trong tự nhiên.[7]



Le nâu có mỏ dài màu xám, đầu và chân cũng dài. Lông trên đầu, cổ và bụng màu vàng sẫm da bò, chỏm lông trên đầu sẫm màu hơn. Lưng và hai cánh màu xám sẫm, với các mảng màu nâu hạt dẻ trên cánh và đuôi.

Tiếng kêu của chúng hơi khò khè, phát ra khi bay[2]. Các chỗ đậu ngủ đêm của chúng thường rất ồn ào. Chúng làm tổ trong các hốc trên cây, các tổ cũ của các loài chim khác, đẻ 6-12 trứng.




  • Tra cứu động vật rừng Việt Nam, Le nâu


  1. ^ BirdLife International (2012). “Dendrocygna javanica”. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 

  2. ^ a ă Ali, Salim; Sidney Dillon Ripley (1986/2001). Handbook of the Birds of India and Pakistan, ấn bản lần thứ hai.,10 quyển (ấn bản 2). Nhà in Đại học Oxford.  Số thứ tự: 138, quyển 1, trang 138-140.

  3. ^ Anderson, R C & M Baldock (2001). “New records of birds from the Maldives, with notes on other species” (PDF). Forktail 17: 67–73. 

  4. ^ Ali, Salim; Sidney Dillon Ripley (1978). Handbook of the Birds of India and Pakistan. Volume 1 (ấn bản 2). New Delhi: Oxford University Press. tr. 138–139. 

  5. ^ Baker, ECS (1929). Fauna of British India. Birds. Volume 6 (ấn bản 2). London: Taylor and Francis. tr. 411–413. 

  6. ^ Blanford, WT (1898). Fauna of British India. Birds. Volume 4. London: Taylor and Francis. tr. 430–431. 

  7. ^ Chatterjee, Sujan (1995). “Occurrence of albino Lesser Whistling Teal, Dendrocygna javanica (Horsfield)”. J. Bombay Nat. Hist. Soc. 92 (3): 417–418. 



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1168 - 2011 một danh sách

Ảnh: William Waldron [@] một lần nữa, trang trí ELLE đã biên soạn một danh sách các nhà thiết kế chúng tôi tình yêu, tài năng làm việc ở đầu trò chơi của họ. Thêm vào đó, chúng tôi đã chọn 5 trẻ trang trí công việc mà chúng tôi tìm thấy hấp dẫn và tươi. Click vào đây để xem picks của chúng tôi thiết kế top 25. Xem ai đã thực hiện trong danh sách năm ngoái. bán-ghế-sofa-giường-đa-năng-giá-rẻ-tuy-tín-tphcm 2011 một danh sách

1170 - Massimo Vignelli ' s Secrets để thiết kế

Ảnh: Các Juliana Sohn "kéo dài thiết kế tốt," ông Massimo Vignelli, người vợ, Lella, đã luôn luôn đi bộ. Sinh ra tại ý và được đào tạo như là kiến trúc sư, các cặp vợ chồng thành lập Vignelli Associates tại thành phố New York vào năm 1971, đưa con dấu hiện đại của đồ nội thất, bộ đồ ăn và đồ nội thất, không phải đề cập đến của năm 1972 huyền thoại bản đồ tàu điện ngầm thành phố New York. Sáng tạo mới nhất của họ: Vignelli Trung tâm nghiên cứu thiết kế tại của Rochester Institute of Technology, mà họ tặng của họ lưu trữ toàn bộ các đối tượng và phác thảo. Loại thiết kế endures? Đọc. cảm hứng • chúng tôi có một phương châm: nếu bạn không thể tìm thấy nó, thiết kế nó. Năm 1964, chúng tôi đang tìm kiếm một ghế sofa cho ngôi nhà của chúng tôi, vì vậy chúng tôi thiết kế Saratoga cho Poltronova, mà có tấm lót bằng da và một khung boxy, mạ. Đó là trong phòng khách của chúng tôi — chúng tôi vẫn còn sử dụng nó.  • Thiết kế nên giải quyết vấn đề. Đối với Heller, chúng ta thực hiện x...