Chuyển đến nội dung chính

Phân họ Vịt – Wikipedia tiếng Việt


Phân họ Vịt hay phân họ Vịt mò, còn gọi là phân họ Vịt thật sự (danh pháp khoa học: Anatinae) là một phân họ của họ Anatidae (bao gồm các loài thiên nga, ngỗng, ngan và vịt). Nó tạo thành một nhóm gọi chung là vịt mò và moa-nalo, một dòng dõi trẻ nhưng với các đặc trưng phát sinh sau khi tách ra khỏi tổ tiên chung gần nhất khá cao, có nguồn gốc từ chúng.

Tình trạng hệ thống hóa và phân loại của nhóm vịt mò và những loài vịt nào thuộc về phân họ Anatinae còn nhiều tranh cãi. Như được hiểu tại đây, phân họ này chỉ chứa vịt mò và các họ hàng gần của chúng, là các loài moa-nalo đã tuyệt chủng. Theo kiểu khác[1], phân họ Anatinae nghĩa rộng được coi là chứa phần lớn các dạng "vịt" và nhóm vịt mò tạo thành tông Anatini trong phạm vi phân họ theo nghĩa rộng. Phân loại trong bài này phản ánh gần chính xác nhất sự không chắc chắn còn tồn đọng trong các mối liên hệ qua lại giữa các dòng dõi chính của họ Anatidae (thủy điểu)[2].





Nhóm vịt mò, với sự phân bố toàn cầu, được xác định giới hạn theo nghiên cứu năm 1986[3] bao gồm 8 chi và khoảng 50-60 loài còn sinh tồn. Tuy nhiên, mòng két Salvadori gần như chắc chắn là có quan hệ gần gũi với vịt tai hồng, còn các chi khác có lẽ với sự xác định vị trí chưa được giải quyết trọn vẹn[2][4]. Loài vịt cẩm thạch kỳ dị, trước đây được gán một cách không chắc chắn vào nhóm vịt mò, thực ra có lẽ chính xác hơn là thuộc về nhóm vịt lặn hay thậm chí là một phân họ khác biệt[2].

Nhóm vịt này được đặt tên như vậy là do các thành viên của nó tìm kiếm các loại thức ăn thực vật chủ yếu bằng cách lật úp trên mặt nước hay trên thảm cỏ và ít khi lặn. Chúng chủ yếu sống thành bầy đàn trong các môi trường nước ngọt, tới tận vùng cửa sông. Chúng bay khỏe và các loài ở phía bắc đa phần là những loài chim di trú. So sánh với các kiểu vịt khác, chân của chúng ở phía trước của cơ thể nhiều hơn, gần về phía giữa của cơ thể. Chúng đi lại tốt trên mặt đất và một số loài chỉ kiếm ăn trên mặt đất.

Các loài vịt mò này nói chung kiếm ăn trên mặt nước hay trên các đáy bùn đất rất nông. Chúng không được trang bị để lặn sâu xuống vài mét như các loài vịt lặn thật sự. Khác biệt cơ bản nhất giữa vịt mò và vịt lặn là kích thước chân. Chân của vịt mò nói chung nhỏ hơn do chúng không cần lực đẩy bổ sung để lặn nhằm tìm kiếm thức ăn.

Đặc trưng phân biệt khác của nhóm vịt mò khi so sánh với vịt lặn là cách thức chúng bay lên khi bị làm cho hoảng sợ hoặc khi chuyển động. Vịt mò có thể bay ngay lập tức từ mặt nước mà không cần đà (động lượng) còn vịt lặn cần phải thu được động lượng (có đà) để cất cánh, vì thế chúng phải bơi một khoảng ngắn trên mặt nước để có thể bay lên.


Lịch sử phân loại[sửa | sửa mã nguồn]


Theo truyền thống, phần lớn các loài vịt được gán vào một trong các nhóm như nhóm vịt khoang, vịt đậu cây, vịt mò hay vịt lặn; hai nhóm cuối cùng này coi như là tạo ra phân họ Anatinae. Tuy nhiên, nhóm vịt đậu cây hóa ra là tổ hợp cận ngành chứa nhiều loài thủy điểu vùng nhiệt đới đơn giản là đã tiến hóa để có khả năng đậu tốt trong các môi trường sống miền rừng của chúng. Một vài loài trong nhóm này, chẳng hạn như vịt Brasil, sau này đã được gán vào phân họ Anatinae.

Đối với các loài vịt lặn, các dữ liệu chuỗi mtDNA cytochrome b và NADH dehydrogenaza[2] chỉ ra rằng chúng là tương đối xa đối với các loài vịt mò và sự tương tự hình thái[3] chỉ là do tiến hóa hội tụ.

Ngoài ra, chi Anas theo định nghĩa truyền thống là không đơn ngành; một vài loài Nam Mỹ thuộc về nhánh khác biệt, có thể bao gồm cả vịt guồng của chi Tachyeres[2], còn các loài khác như mòng két Baikal nên được coi là khác biệt. Xem thêm bài cụ thể về các chi này để có thêm thông tin.




Các chi sau đây (với một ngoại lệ) được đặt chắc chắn trong nhóm vịt mò:

Chi Amazonetta – địa vị chưa được giải quyết trọn vẹn, có thể nhất là vịt mò

Chi Anas – có lẽ cận ngành:


Chi Lophonetta - trước đây gộp trong chi Anas

Chi Speculanas - trước đây gộp trong chi Anas

3 chi và 4 loài đã biết của moa-nalo tuyệt chủng vào khoảng năm 1000. Trước đây chúng sinh sống trên quần đảo Hawaii và có tổ tiên là giống vịt mò mà có thể đồng thời cũng là tổ tiên gần của vịt cổ xanh:


Vịt mồng (Sarkidiornis melanotos): Loài vịt mò đặt sai chỗ?

Các dấu tích cận hóa thạch của (các) loài vịt mò nhỏ, không bay đã được tìm thấy trên đảo Rota trong quần đảo Mariana[5]. Chúng không thể gán vào một trong các chi đã biết, nhưng có lẽ gần gũi hơn cả là với Anas. Loài thủy điểu gần giống như vịt và kỳ dị nhất được tìm thấy trên đảo Kauaʻi (Hawaii)[6]. Do các đặc trưng phát sinh sau khi tách ra khỏi tổ tiên chung là độc đáo duy nhất của nó (nó dường như có các mắt nhỏ nằm cao và xa về phía sau ở trên đầu) nên vị trí của loài tương tự như vịt này vẫn chưa thể giải quyết; chỉ có vịt mò và ngỗng thật sự là đã biết với độ chắc chắn từng sinh sống trên quần đảo Hawaii.

Thường được đặt trong phân họ Anatinae là các chi mà mối quan hệ của chúng hiện nay vẫn/phải được coi là chưa chắc chắn:


Ngược lại, các chi sau đây, thường được coi là thuộc về phân họ Tadorninae, có thể trên thực tế là các loài vịt mò:




  1. ^ Terres John K. & National Audubon Society (NAS) (1991): The Audubon Society Encyclopedia of North American Birds. Wings Books, New York. Tái bản của ấn bản năm 1980. ISBN 0-517-03288-0

  2. ^ a ă â b c Johnson Kevin P. & Sorenson Michael D. (1999): Phylogeny and biogeography of dabbling ducks (genus Anas): a comparison of molecular and morphological evidence. Auk 116(3): 792–805. Toàn văn PDF

  3. ^ a ă Livezey Bradley C. (1986): A phylogenetic analysis of recent anseriform genera using morphological characters. Auk 103(4): 737-754. Toàn văn PDF Toàn văn DjVu

  4. ^ Sraml M.; Christidis L.; Easteal S.; Horn P. & Collet C. (1996): Molecular Relationships Within Australasian Waterfowl (Anseriformes). Australian Journal of Zoology 44(1): 47-58. doi:10.1071/ZO9960047 (Tóm tắt HTML)

  5. ^ Steadman David William (1999): The Prehistory of Vertebrates, Especially Birds, on Tinian, Aguiguan, and Rota, Northern Mariana Islands. Micronesica 31(2): 319-345. Toàn văn PDF

  6. ^ Burney David A.; James Helen F.; Burney Lida Pigott; Olson Storrs L.; Kikuchi William; Wagner Warren L.; Burney Mara; McCloskey Deirdre; Kikuchi Delores; Grady Frederick V.; Gage Reginald II & Nishek Robert (2001): Fossil Evidence for a Diverse Biota from Kauaʻi and Its Transformation since Human Arrival. Ecological Monographs 71(4): 615-641. doi:10.2307/3100038




Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1146 - Charley Harper cho bộ sưu tập đồ ăn mới fishs câu Eddy

Nếu nó không cho những nỗ lực của Todd Oldham, Charley Harper minh họa tuyệt vời có thể đã nhạt dần vào quên lãng. Nhưng bây giờ, cộng tác với bộ đồ ăn bằng quirky purveyor fishs câu Eddy, New York-dựa trên thiết kế là tạo ra một bộ sưu tập các món ăn theo chủ đề thuỷ và thủy tinh lấy cảm hứng từ tác phẩm của Harper. Oldham đã quan tâm đến thiết kế của minh hoạ sau khi xem qua một ví dụ trong một cửa hàng đồ cổ. Cuối cùng, cả hai cộng tác "Charley Harper: An minh họa cuộc sống," một chuyên khảo sát Harper's sự nghiệp. Và khi fishs câu Eddy tiếp cận Oldham về việc tạo ra một dòng chữ ký, ông một cách lịch sự demurred, cho thấy một bộ sưu tập của Harper's làm việc để thay thế. Chúng tôi rất vui mừng ông đã làm.  Charley Harper cho fishs câu Eddy, $5 đến $32,95; fishseddy.com để biết thêm về những gì chúng tôi tình yêu, hãy nhấp vào đây. mẫu giường ngủ đẹp có ngăn kéo Charley Harper cho bộ sưu tập đồ ăn mới fishs câu Eddy

1164 - Thứ ba hàng năm huyền thoại La Cienega nghệ thuật và thiết kế tổ chức sự kiện

Ảnh: Hiển thị cửa sổ lúc Pat McGann được thiết kế bởi Peter Dunham tôn vinh Henri Matisse. Hình ảnh của man rợ Winn.  tuần này, nghệ thuật và thiết kế trúng các đường phố ở Los Angeles La Cienega thiết kế. Như một phần của các huyền thoại hàng năm thứ ba của La Cienega, trendsetting nhà thiết kế, bao gồm cả Mary McDonald và Peter Dunham, revamping các cửa sổ của khu mua sắm nổi tiếng và cách tạo họa tiết lấy cảm hứng từ các nghệ sĩ yêu thích của họ (Click vào đây để xem cuối năm phong cách windows). Ngoài các cửa sổ màn hình, sự kiện ba ngày bao gồm triển lãm, các cuộc thảo luận bảng điều khiển, và bên, cộng với một gala đêm khai mạc được tổ chức bởi riêng của chúng tôi tổng biên tập, Michael Boodro. Huyền thoại của La Cienega khai mạc ngày 12 tháng 5 và chạy qua 14 tháng 5. Tiền thu được sẽ hưởng lợi Art Elysium, một tổ chức hỗ trợ cả hai nghệ sĩ mới nổi và trẻ em Khuyết tật về mặt y tế. Để biết thêm chi tiết, hãy truy cập lcdqla.com.  tham gia mua sắm: 1st nhuận, đồ nội thất Baker,...