Chuyển đến nội dung chính

Yazdegerd III – Wikipedia tiếng Việt


Yazdegerd III

Shahanshah của Ērānshahr

YazdegerdIIICoinCroppedHistoryofIran.jpg

Tiền xu của Yazdegerd III vào năm cuối Triều đại

Tại vị
16 tháng 6 năm 632 – năm 651
Đăng quang
Estakhr
Tiền nhiệm
Khosrau IV
Kế nhiệm
Office abolished
Thông tin chung
Hậu duệ
Peroz III
Izdundad (Yazaddad)
Thân phụ
Shahriyar
Thân mẫu
Không rõ
Sinh
624
Mất
651 (27 tuổi)
Merv
Tôn giáo
Hỏa giáo

Yazdegerd III (624-651), cũng gọi là Yazdgerd hay Yazdiger (tiếng Trung Ba Tư: 𐭩𐭦𐭣𐭪𐭥𐭲𐭩 Yazdākird, có nghĩa là "được tạo nên bởi Chúa"; tiếng Ba Tư mới: یزدگرد) là hoàng đế thứ 38 và cũng là vị hoàng đế cuối cùng của Vương triều Sassanid,[1] ông là cháu của hoàng đế Khosrau II (590-628), người đã bị con trai Kavadh II của Ba Tư sát hại vào năm 628.[2] Yazdegerd lên ngai vàng vào 16 tháng 6, năm 632 lúc mới 8 tuổi sau một loạt cuộc xung đột nội bộ.





Yazdegerd III là con trai của Shahriyar với một người phụ nữ không rõ tên tới từ Baduraya.[3] Shahriyar là con trai của hoàng đế Khosrau II, và đã người anh trai Kavadh II sát hại vào năm 628 do ông ta phải tìm cách bảo vệ ngai vàng khỏi những cuộc nổi dậy. Sau cái chết của Kavadh, một cuộc nội chiến đã nổ ra ở Iran giữa hai phe phái, phe Pahlav (Parthia) phe đứng đầu là cháu trai của Vistahm, Farrukh Hormizd, và phe Parsig (Ba Tư),đứng đầu là viên cựu bộ trưởng Sassanid Piruz Khosrow.

Trong cuộc nội chiến này, Yazdegerd III đã ẩn náu tại Estakhr. Tuy nhiên, vào ngày 16 Tháng Sáu năm 632, con trai của Farrukh Hormizd,cũng là người kế nhiệm ông ta, Rostam Farrokhzad và Piruz Khosrow đã đồng ý cộng tác với nhau, họ chọn Yazdegerd làm vị hoàng đế Sassanid mới, ngay sau đó ông đã được tôn lên làm hoàng đế tại đền thờ Anahita của Hỏa giáo ở Estakhr khi ông chỉ mới 8 tuổi.Yazdegerd III đã gần như là thành viên còn sống cuối cùng của nhà Sasan. Một năm sau khi ông mới vừa lên ngôi hoàng đế, người Ả Rập Hồi giáo đã xâm lược Iran.



Những cuộc chiến đầu tiên với người Ả Rập Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]


Yazdegerd sau đó đã tiến hành đàm phán với mười bốn nhà đàm phán Ả Rập, và hỏi họ về lý do cho hành vi hung hăng của họ đối với đế chế của mình. Một trong những mười bốn người Ả Rập ngay lập tức đáp lời: "Allah lệnh cho chúng tôi, bằng lời nói của nhà tiên tri của ngài, để mở rộng sự thống trị của Hồi giáo đối với tất cả các dân tộc." [5] Vào tháng 5, người Hồi giáo đã đánh bại quân đội Sassanid tại Hira, và chiếm đóng thành phố, đây là một thành phố Sassanid có vị trí chiến lược quan trọng. Sau sự thất thủ của Hira, Yazdegerd bắt đầu chú ý nhiều hơn đến những người Hồi giáo; Rostam Farrokhzad đã phái một đội quân dưới quyền chỉ huy của viên tướng Ba Tư là Bahman Jadhuyih và viên tướng người Armenia Jalinus nhằm chống lại người Hồi giáo. Rostam được cho là đã bí mật nói với Bahman rằng: "Nếu như Jalinus bại trận trở về, nhà ngươi hãy chặt đầu hắn cho ta" Quân đội Sassanid sau đó đã đánh bại những người Hồi giáo trong trận chiến cây cầu.

Năm 636, Yazdegerd III đã ra lệnh cho Rostam Farrokhzad chinh phạt người Ả Rập xâm lược và sau đó nói với ông ta: "Hôm nay ngươi là người [xuất sắc nhất] trong những người Iran. Nhà ngươi thấy đấy người dân Iran đã không phải đối mặt với một tình huống như thế này kể từ khi dòng dõi Ardashir I nắm lấy quyền lực ".Các phái viên sau đó đến diện kiến Yazdegerd III đã cầu xin ông nên xem xét miễn nhiệm Rostam và thay thế ông ta bằng một người nào đó xung quanh, và người đó là người mà mọi người sẽ tuân phục.[7]

Yazdegerd III đã ra lệnh cho Rostam phải bẩm bảo đánh giá về người Ả Rập bởi vì họ đã cắm trại tại Qadisiyyah. Rostam Farrokhzad đã bẩm báo lại rằng người Ả Rập là "một bầy sói, bất ngờ xông vào cắn xé đám mục đồng không đề phòng và tiêu diệt họ". Yazdegerd III đáp lời Rostam bằng cách nói:




Chốt chặn cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]


Tuy nhiên, quân đội Sassanid đã nhận một thất bại nặng nề trong trận al-Qādisiyyah, và Rostam Farrokhzad, Bahman, Jalinus, Shahriyar bin Kanara (là con trai của kanarang Kanadbak), cùng hai hoàng tử Armenia tên là Grigor II Novirak và Musel III Mamikonian, đã tử trận. Người Ả Rập sau đó tiến về phía kinh đô Ctesiphon của nhà Sassanid mà không gặp phải bất kỳ sự kháng cự nào. Tuy nhiên, Yazdegerd, đã đem toàn bộ châu báu cùng với 1.000 bầy tôi của ông trốn đến Hulwan ở Media, và để lại người em trai của Rostam Farrokhzad là Farrukhzad phụ trách việc bảo vệ thành phố, tuy nhiên, ông ta đã không tổ chức bất cứ sự kháng cứ nào và cũng bỏ chạy đến Hulwan. Người Ả Rập sau đó đặt chân tới Ctesiphon, bao vây phần phía tây của thành phố, rồi nhanh chóng chiếm lĩnh toàn bộ thành phố.[2] Trong tháng 4 năm 637, người Ả Rập đã đánh bại một đội quân Sassanid khác trong trận Jalula. Sau thất bại này, Yazdegerd chạy trốn sâu hơn vào Media.

Sau đó, ông xây dựng một quân đội mới và phái tới Nahavand để ngăn chặn bất kỳ đội quân Hồi giáo nào tiến từ hướng đó và có thể tái chiếm lại Iraq. Đội quân mà Yazdegerd phái đi dường như là một mối đe dọa lớn đến nỗi nó buộc Umar tập hợp tất cả các đạo quân Ả Rập ở Kufa và Basra dưới quyền Al-Nu'man ibn Muqrin và lệnh cho họ tiến đánh quân Sassanid với quân tiếp viện từ Syria và Oman. Trận chiến được cho là đã kéo dài nhiều ngày, và nó gây ra thương vong nặng nề cho cả hai bên, trong đó khiến cho cả Al-Nu'man ibn Muqrin và hai viên tướng Ba Tư là Mardanshah và Piruz Khosrow đều bỏ mạng. Trận Nahāvand vào năm 642 là thảm họa quân sự thứ hai cho nhà Sassanid sau trận al-Qādisiyyah.


Tháo chạy[sửa | sửa mã nguồn]


Sau thất bại này của quân Sassanid, Yazdegerd trốn sang Isfahan, và xây dựng một đội quân nhỏ dưới quyền một sĩ quan quân đội có tên là Siyah, ông này đã bị mất toàn bộ của cải vào tay người Ả Rập. Tuy nhiên, Siyah và phần còn lại của quân đội nổi loạn chống lại Yazdegerd, và đồng ý trợ giúp người Ả Rập đổi lại là đất đai cho bản thân họ sinh sống. Trong khi đó, Yazdegerd đã bỏ chạy đến Estakhr, tại đây ông đã cố gắng để tổ chức một căn cứ kháng chiến trong tỉnh Pars. Tuy nhiên, vào năm 650, Abdullah ibn Aamir, thống đốc của Basra, xâm chiếm Pars và đặt dấu chấm hết cho cuộc kháng chiến của người Ba Tư. Estakhr đã bị tàn phá thành một đống hoang tàn sau trận chiến và một lực lượng 40.000 người phòng thủ trong đó có nhiều nhà quý tộc Ba Tư đã ngã xuống. Sau khi người Ả Rập chinh phục Pars, Yazdegerd trốn sang Kerman trong khi vẫn bị một đội quân Ả Rập truy đuổi. Sau đó, Yazdegerd đã cố gắng để chạy trốn khỏi người Ả Rập trong một cơn bão tuyết tại Bimand.


Tiền xu của vị hoàng đế trẻ Yazdegerd III

Sau khi đến Kerman, Yazdegerd lại tỏ ra kiêu ngạo, gây mất thiện cảm đối với viên Marzban của Kerman, và sau đó rời Kerman để tới Sistan. Một quân đội Basra sau đó đã tiến đến nơi này đã đánh bại và giết chết Marzban của Kerman trong một trận đánh đẫm máu. Khi Yazdegerd đến Sistan, ông lại tiếp tục đánh mất sự ủng hộ của viên thống đốc Sistan bởi đòi hỏi thu thuế của mình.Yazdegerd sau đó hướng đến Merv với ý định liên kết với các tù trưởng người Turk. Tuy nhiên, khi ông đến Khorasan, người dân Khorasan đã không đồng ý với quyết định Yazdegerd và nói với ông rằng tốt hơn hết là ông nên đàm phán hòa bình với người Ả Rập; Tuy nhiên, Yazdegerd đã từ chối. Sistan tiếp đó cũng bị người Ả rập đánh chiếm sau một cuộc chiến đẫm máu trong khoảng từ năm 650-652. Yazdegerd cũng đã nhận được sự ủng hộ từ tiểu quốc Chaghaniyan, họ đã phái quân tới hỗ trợ ông chống lại người Ả Rập.

Khi Yazdegerd đến Merv, ông đã yêu cầu thu thuế từ Marzban của Merv, và điều này khiến ông đánh mất sự ủng hộ của ông ta và khiến cho ông ta quay ra liên minh với Nezak Tarkan, vị vua người Hung Trắng của Badghis, người này đã giúp ông ta đánh bại Yazdegerd và những người theo ông. Sau khi bị đánh bại, Yazdegerd đã bị giết bởi một chủ cối xay ở địa phương trong khi ông đang cố gắng chạy trốn khỏi Merv vào năm 651.[1]



Loại lịch của Hỏa giáo, mà vẫn còn sử dụng ngày nay, đã sử dụng năm lên ngôi của Yazdegerd III là năm căn cứ của nó,[14] và lịch thời đại (hệ thống đánh số năm) của nó được đi kèm với một hậu tố YZ. Những người Magi lấy thời điểm Yazdegerd III mất là cột mốc đánh dấu sự chấm dứt thiên niên kỷ của Zoroaster và là thời điểm bắt đầu thiên niên kỷ của Oshedar.



Những người con trai của Yazdegerd là Peroz III và Bahram VII đã trốn sang Trung Quốc. Theo truyền thuyết của người Shiite, người con gái của ông,Shahrbanu,[15] đã kết hôn với Hussein ibn Ali. Con trai của Shahrbanu là Ali ibn Husayn Zayn al-Abidin, vị lãnh tụ Hồi giáo Shiite thứ tư.[15] Một số học giả Bahá'í đã tuyên bố rằng tổ tiên của Bahá'u'lláh có thể được truy ngược trở lại Yazdegerd III, nhằm thúc đẩy việc khuyến khích những tín đồ Hỏa giáo cải sang tôn giáo Baha'i.[17][18] Học giả Hồi giáo Al-Masudi lại đưa ra thông tin khác, ông ta tuyên bố rằng Yazdegerd III có hai con trai, Bahram và Peroz, và ba người con gái, Shahrbanu, Adrag và Mardawand.[19]




  1. ^ a ă Department of Ancient Near Eastern Art (tháng 10 năm 2003). “The Sasanian Empire (224-651 A.D.)”. Heilbrunn Timeline of Art History. New York. 

  2. ^ a ă Bearman, P.; Th. Bianquis, C.E. Bosworth, E. van. Donzel, W.P. Heinrichs (2013). “Yazdajird III”. Encyclopaedia of Islam, Second Edition. 

  3. ^ The Challenge to the Empires. State University of New York Press. 1993. tr. 222. ISBN 0-7914-0852-3. 


  4. ^ Karaka 1884, tr. 15


  5. ^ The Battle of al-Qadisiyyah and the Conquest of Syria and Palestine. Albany: State University of New York Press. 1992. tr. 44. ISBN 0-7914-0734-9. 


  6. ^ The Battle of al-Qadisiyyah and the Conquest of Syria and Palestine. Albany: State University of New York Press. 1992. tr. 43. ISBN 0-7914-0734-9. 





  7. ^ “The Lalis”. Zoroastrian Calendar. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013. 

  8. ^ a ă Boyce, Mary (tháng 12 năm 1989). “Bibi Sahrbanu”. Encyclopaedia Iranica. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013. 


  9. ^ Smith, Peter (2000). “Zoroastrianism”. A concise encyclopedia of the Bahá'í Faith. Oxford: Oneworld Publications. tr. 369. ISBN 1-85168-184-1. 

  10. ^ Balyuzi, H.M. (1985). Eminent Bahá'ís in the time of Bahá'u'lláh. Oxford, UK: George Ronald. tr. 309–312. ISBN 0-85398-152-3. 

  11. ^ Comparetti, Mateo (tháng 7 năm 2009). “Chinese-Iranian Relations xv. The Last Sasanians in China”. Encyclopaedia Iranica. 



  • Pourshariati, Parvaneh (2008). Decline and Fall of the Sasanian Empire: The Sasanian-Parthian Confederacy and the Arab Conquest of Iran. London and New York: I.B. Tauris. ISBN 978-1-84511-645-3. 

  • Shapur Shahbazi, A. (2005). “SASANIAN DYNASTY”. Encyclopaedia Iranica, Online Edition. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2014. 

  • Karaka, Dosabhai Framji (1884), History of the Parsis: including their manners, customs, religion, and present position I, Macmillan and co., ISBN 0-404-12812-2 

  • Kennedy, Hugh N. (2004). The Prophet and the Age of the Caliphates: The Islamic Near East from the 6th to the 11th Century . Harlow, UK: Pearson Education Ltd. ISBN 0-582-40525-4. 

  • Zarrinkub, Abd al-Husain (1975). “The Arab conquest of Iran and its aftermath”. The Cambridge History of Iran, Volume 4: From the Arab Invasion to the Saljuqs. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 1–57. ISBN 978-0-521-20093-6. 

  • Morony, M. (1986). “ʿARAB ii. Arab conquest of Iran”. Encyclopaedia Iranica, Vol. II, Fasc. 2. tr. 203–210. 


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

1156 - Tìm thấy lượt người trong thiết kế: Ngày 27 tháng 5

Ảnh: Thông qua thiết kế là của tôi.  chưa có tiêu đề tài liệu "tuần này, mùa hè thiết kế là tôi đăng một bộ sưu tập nội thất được trang trí với bức ảnh cũ [còn lại]. Họ thêm một cảm giác ấm cúng cho những không gian và làm cho bạn suy nghĩ về lịch sử của mỗi bức ảnh. Tôi đặt cược họ sẽ là người mới bắt đầu cuộc trò chuyện tuyệt vời tại một bữa tiệc hoặc thu thập." -Rachel Follett, đáng yêu cụm "tôi đã nhìn thấy đèn mặt dây IKEA Maskros tấn công trước khi, nhưng đây là một trong, được phát hiện trên máy tính xách tay màu xanh lá cây ít, nhất độc đáo và trang nhã biến đổi ra khỏi đó. Jenny đã cho tôi tại sơn vàng, nhưng việc bổ sung các giấy "Hoa" và ít glasslike bát Lấy vật cố này để cấp độ tiếp theo." -Katie Stephenson, nghệ thuật Wall "đang là một người yêu của tất cả mọi thứ đầy màu sắc, tôi ngưỡng mộ nghệ sĩ Mariska Meijers nhà. Tôi đã hoàn toàn không có tài năng với một bàn chải Sơn, do đó, nó tuyệt vời để xem Mariska làm việc kỳ diệu của mình...

Sherwood, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Sherwood, Oregon —  Thành phố  — Vị trí trong Oregon Sherwood, Oregon Tọa độ: 45°21′25″B 122°50′36″T  /  45,35694°B 122,84333°T  / 45.35694; -122.84333 Quốc gia Hoa Kỳ Tiểu bang Oregon Quận Washington Hợp nhất 1893 Chính quyền  • Thị trưởng Keith Mays Diện tích  • Tổng cộng 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Đất liền 4,1 mi 2 (10,5 km 2 )  • Mặt nước 0 mi 2 (0 km 2 ) Độ cao 193 ft (58,8 m) Dân số (2006)  • Tổng cộng 16.115  • Mật độ 3.930,5/mi 2 (1.534,8/km 2 ) Múi giờ Thái Bình Dương (UTC-8)  • Mùa hè (DST) Thái Bình Dương (UTC-7) Mã bưu điện 97140 Mã điện thoại 503 FIPS 41-67100 2 GNIS 1126877 3 Trang web http://www.ci.sherwood.or.us Tiệm cà phê ở phố chính Sherwood Sherwood là một thành phố trong Quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Dân số theo điều tra dân số năm 2000 là 11.791. Ước tính về dân số năm 2006 là 16.115 người. Đây là một cộng đồng cư dân trong Thung lũng Tualatin nằm ở tây nam Portland. [1] Khu vực mà ngày nay là Sherwood khi xưa là nơi định cư của nhóm người bản thổ Mỹ ...

1150 - Goa Cutlery Set từ Conran Shop

Ảnh: Geoffrey Sokol The Goa cutlery set từ cửa hàng Conran gợi lên sự đơn giản của bàn chải một nghệ sĩ. Sản xuất tại Bồ Đào Nha, flatware thép không gỉ có một xử lý mỏng, màu đen-nhựa và máy rửa chén an toàn. Một thiết lập nơi mảnh-sáu là $70; tập 36-phần chi phí $415.  Goa cutlery set, 70 $ hoặc $415, 212-755-9079; conranusa.com để biết thêm về những gì chúng tôi tình yêu, hãy nhấp vào đây. ghế sofa đa năng giá rẻ Goa Cutlery Set từ Conran Shop